KẾT HỢP PHỤC HỒI CHỨC NĂNG THEO CHƯƠNG TRÌNH AVANT VÀ PHƯƠNG PHÁP CH M CỨU “TỈNH NÃO KHAI KHIẾU” ĐIỀU TRỊ DI CHỨNG TAI BIẾN MẠCH NÃO TẠI BỆNH VIỆN PHỤC HỒI CHỨC NĂNG ĐÀ NẴNG

TS.BS. Nguyễn Văn Dũng,

BS.CK1. Võ Thị Minh Thủy

BS Trương Thị Phượng,

 KTV Nguyễn Huệ Phương

1. Đại cương về di chứng tai biến mạch não

Tai biến mạch máu não là các thiếu sót thần kinh với các triệu chứng khu trú hơn là lan tỏa xảy ra đột ngột do mạch máu não (động mạch, mao mạch và hiếm hơn là tĩnh mạch) bị vỡ hoặc tắc mà không do chấn thương sọ não. Theo thống kê của Hội Đột quỵ Mỹ, cứ mỗi 45 giây trôi qua, trên thế giới lại có một người đối diện với bệnh đột quỵ và cứ 3 phút trôi qua, thế giới lại có một người tử vong do đột quỵ. Tại Việt Nam, con số đáng báo động là mỗi năm có khoảng 200 nghìn người mắc phải, 50% trong số đó tử vong chủ yếu là người già.

Có rất nhiều biến chứng và di chứng thường gặp sau tai biến mạch não, được cải thiện theo thời gian phụ thuộc vào mức độ bệnh, quá trình điều trị và phục hồi chức năng:

 Rối loạn vận động: yếu, liệt một phần chi thể hoặc nửa người, liệt mặt.

– Rối loạn nhận thức, giảm tư duy, mất trí nhớ, trí tuệ sa sút.

– Rối loạn cơ tròn: đi tiểu hoặc đại tiện không tự chủ

– Rối loạn về ngôn ngữ: nói ngọng, nói lắp, âm điệu bị biến đổi, khó diễn đạt suy nghĩ bằng lời, thậm chí không nói được

– Rối loạn thị giác.

– Rối loạn cảm giác: đau, tê, hoặc cảm giác nóng rát và ngứa ran. Thậm chí không cảm giác được một phần chi thể của mình.

– Mệt mỏi, rối loạn thăng bằng, mất ngủ hoặc ngủ quá nhiều…

– Khó nuốt, gặp khó khăn trong việc nuốt kết hợp với tình trạng liệt có thể dẫn đến viêm phổi do thức ăn đồ uống đi vào phổi.

– Loét các vùng tỳ đè do nằm liệt lâu ngày.

– Giảm các kỹ năng xã hội, các hoạt động cá nhân hàng ngày.

Các rối loạn trên nếu không được điều trị lâu ngày dẫn đến hậu quả người bệnh không tự chăm sóc được bản thân, phải phụ thuộc vào người khác, làm tăng gánh nặng cho người thân và gia đình, bệnh nhân dễ rơi vào trạng thái trầm cảm.

2. Chương trình phục hồi chức năng AVANT

Chương trình AVANT- Phục hồi chức năng thần kinh sau đột qụy, chương trình hợp tác giữa Việt Nam và cộng hòa Áo, được sự hỗ trợ chuyên môn gồm các giáo sư, tiến sĩ, bác sĩ, chuyên gia đầu nghành thần kinh, đột quỵ, phục hồi chức năng, từ các tổ chức đột quỵ thế giới, Cục khoa học, công nghệ và đào tạo Bộ y tế, tổng hội y học Việt Nam, gồm hai phần: vận động trị liệu và hoạt động trị liệu.

a) Vận động trị liệu: mục đích tránh những tổn thương thứ cấp do nằm hoặc ngồi quá lâu trong một tư thế, biến chứng teo cơ, cứng khớp, co rút cơ, đau, loét, cải thiện tuần hoàn, kiểm soát trương lực cơ, khôi phục vận động mẫu, tăng cường cảm thụ bản thể

– Các bài tập vận động cho cột sốngXoay, gập và duỗi, nghiêng phải và nghiêng trái cột sống.

– Các bài tập vận động cho chi dướiSử dụng bài tập dậm chân xuống mặt giường. “Stamping”, kích thích vỗ nhẹ dọc theo chi dưới….Khớp hôngGập duỗi, dạng, áp, xoay trong và xoay ngoài, khớp gối: Gập, duỗi, khớp cổ chân: Gập mặt lưng và gập mặt lòng. Và xoay khớp cổ chân, khớp ngón chânGập, duỗi.

– Tập ngồi dậy và đứng lên sớmtập càng sớm càng tốt, kĩ thuật viên (KTV) phải đứng ngay bên cạnh bệnh nhân, luôn quan sát bệnh nhân: Nét mặt, thái độ,….

– Dịch chuyển sớm: Dịch chuyển sớm là ngồi dậy hoặc đứng lên trong vòng 24 – 48 giờ sau đột quỵ.

– Kiểm tra dấu hiệu sinh tồn ổn định (lưu máy đo HA trong suốt quá trình), quay đầu giường lên 30-45 độ. Dừng lại 1 phút, kiểm tra HA nếu không hạ quá 20mmHg . Tiếp tục quay đầu giường lên cao 90 độ kiểm tra lại huyết áp sau 5 phút nếu bệnh nhân ổn có thể cho bệnh nhân ngồi thòng chân ra ngoài mép giường (chú ý có bục kê dưới chân). Cho bệnh nhân ngồi 10 phút, nếu thấy tụt 20mmHg hoặc lơ mơ thì lập tức cho nằm vị trí ban đầu. Nếu bệnh nhân ngồi an toàn, ổn định xem xét cho bệnh nhân đứng dậy vào ngày hôm sau.

 Di chuyển từ nằm sang ngồi dậyKiểm tra huyết áp, tiến hành từng bước  và luôn quan sát bệnh nhân, nếu thấy bất thường, cần cho bệnh nhân nằm xuống và thực hiện lại động tác.

 Di chuyển từ ngồi sang đứngBàn chân bệnh nhân phải được đặt trên mặt sàn, và hơi lui về sau, mông ngồi dịch về phía mép giường, hỗ trợ bàn chân và đầu gối bệnh nhân, tạo thuận, hỗ trợ bệnh nhân duỗi hông, và đứng đậy

Đứng dậy là chìa khóa quan trọng nhất giúp bệnh nhân có thể độc lập trong di chuyển và sinh hoạt.

– Di chuyển thấp và di chuyển caoKTV đứng ngay trước và bên cạnh, hỗ trợ gối bên liệt. KTV 1 tay đỡ khung chậu bên liệt, 1 tay nâng đỡ thân mình, nếu cần thiết hỗ trợ toàn bộ phía bên liệt.

– Tập bước đi cho bệnh nhân:

Bài tập chuẩn hỗ trợ chân yếu: “giai đoạn chống”: Bảo vệ, giữ vững khung chậu, kiểm soát đầu gối, kích thích cơ chi dưới (tứ đầu đùi, mông lớn…); “giai đoạn đu”: Bảo vệ khung chậu, kích thích, tạo thuận gập gối nâng chân cho bệnh nhân, có thể sử dụng dụng cụ trợ giúp di chuyển như: gậy, thanh song song, khung tập đi, nạng, nẹp,….

Tập bước đi càng sớm càng tốt, bài tập đi cầu thang “lên cầu thang”, “xuống cầu thang”, kích thích sự độc lập càng giảm các sự trợ giúp càng tốt.

b) Hoạt động trị liệu (HĐTL): là điều trị về thể chất và tinh thần, thông qua các hoạt hàng động có lựa chọn, để giúp người bệnh đạt được chức năng tối đa trong cuộc sống  hàng ngày

 Các vấn đề thường gặp: Yếu cơ, co cứng, ảnh hưởng đến chức năng sinh hoạt hàng ngày: ăn uống, mặc quần áo, tắm rửa, di chuyển…Rối loạn cảm giác: nông, sâu, rối loạn về nhận thức thăng bằng , điều hợp, thất ngôn, rối loạn nuốt, can thiệp HĐTL: Hoạt động của chi trên, chức năng sinh hoạt hàng ngày, cảm giác, nhận thức.

 -Tư thế nằm nghiêng sang bên liệt: Chú ý khớp vai bên liệt

– HĐTL tại giường: Chú ý tập vận động thân mình, tập với hoạt động hàng ngày để kích thích tay liệt và mạnh cơ thân mình.

–  Tư thế nằm nghiêng sang bên lành: Chú ý cách lấy tay lành cầm tay liệt, cách giữ ổn định khớp vai khi bệnh nhân thực hiện cử động ( cử động gắn với sinh hoạt hàng ngày, ví dụ: ăn..)

– HĐTL khi bệnh nhân ngồi: Tư thế tay liệt và tư thế ngồi

– Hỗ trợ ngồi và tập cho cơ thân mình kết hợp di động xương bả vai: Di động đai vai: vị trí đặt tay nhằm mục đích ổn định khớp vai và tránh cử động thay thế, cử động của xương bả vai, đưa vai lên miệng chú ý không chuyển động thân mình theo.

– Tập tay và cẳng tay, chức năng sinh hoạt hàng ngày: Chăm sóc bản thân: Ăn, uống , mặc/ cởi quần áo, tắm rửa, đánh răng, chải tóc, đi vệ sinh, vui chơi, giải trí.

– Các bài tập về nhận thức cảm giác: Phương pháp Perfetti “Cognitive therapy exercises”.

Mức 1: KTV hướng dẫn các cử động và vị trí của cử động, bệnh nhân kiểm soát trương lực cơ khi KTV thực hiện cử động, bệnh nhận mở mắt, nhắm mắt, đoán vị trí cử động thông qua cảm giác, nhận thức.

Mức 2: Bệnh nhân thực hiện các cử động với sự hỗ trợ của KTV. Bệnh nhân mở mắt, nhắm mắt, đoán vị trí cử động thông qua cảm giác nhận thức.

Mức 3: Bệnh nhân cố gắng thực hiện cử động độc lập một mình, đoán vị trí cử động thông qua cảm giác, nhận thức.

3. Phương pháp châm cứu “Tỉnh não khai khiếu”.

Phương pháp châm cứu “Tỉnh não khai khiếu” là đại pháp điều trị bệnh trúng phong do quốc y đại sư, viện sĩ Thạch Học Mẫn thiết lập năm 1972. “Tỉnh não khai khiếu” lấy não phủ lập luận, dựa vào lý luận “chủ bất minh, tắc thập nhị quan nguy”. Trải qua 50 năm nghiên cứu cơ sở và lâm sàng, đã hình thành một hệ thống chẩn trị toàn diện bệnh trúng phong một cách khoa học, hệ thống, qui phạm lấy “tỉnh não khai khiếu” châm thích pháp làm chủ. “Tỉnh não khai khiếu”  là phương pháp châm cứu  khoa học của y học cổ truyền Trung Quốc.

  1. Cơ sở chọn huyệt của “Tỉnh não khai khiếu” châm pháp.

Tổ hợp 3 huyệt chính:

– Nội quan: có công dụng dưỡng tâm an thần, thông điều khí huyết. Là huyệt thường dùng điều trị bệnh nội tạng, đặc biệt là huyệt được chọn đầu tiên để trị bệnh tim, bệnh thần chí, bệnh đường tiêu hóa.

– Nhân trung: là đốc mạch, huyệt giao hội của thủ túc âm dương. Đốc mạch khởi từ trong tế bào, đi lên não đến đỉnh, cho nên tả nhân trung có thể điều đốc mạch, khai khiếu khởi bế, kiện não an thần, là huyệt được chọn đầu tiên để trị bệnh tinh thần và thần chí.

– Tam âm giao: giao hội của 3 kinh âm ở chân: Can, Tỳ, Thận, có thể bổ tam âm, ích não tủy, điều khí huyết, an thần, tổng trị các bệnh chứng mà 3 kinh âm ở chân chủ trị.

        – Các huyệt phụ: Cực tuyền, xích trạch, uỷ trung, Phong trì, hoàn cốt, ế phong, hợp cốc, thượng liêm tuyền, khâu khư.

b) Phương huyệt châm cứu.

* Chủ phương 1: “đại tỉnh não”

Tổ hợp huyệt:

– Chủ huyệt:  nội quan, nhân trung, tam âm giao.

–  Phó huyệt:  cực tuyền, xích trạch, ủy trung.

–  Phối huyệt: nuốt khó thêm phong trì, ế phong, hoàn cốt, ngón tay nắm cứng thêm hợp cốc, nói khó thêm liêm tuyền, kim tân, ngọc dịch.

* Chủ phương 2: “tiểu tỉnh não”

Tổ hợp huyệt:

– Chủ huyệt: thượng tinh, bách hội, ấn đường, nội quan, tam âm giao.

– Phó huyệt và phối huyệt giống chủ phương 1.

* Phương huyệt gia giảm:

– Tiểu không kiểm soát, bí tiểu: châm trung cực, khúc cốt, quan nguyên, châm cục bộ, xoa bóp hoặc đắp nóng.

– Mất điều hòa hỗ trợ: châm phong phủ, á môn

– Động kinh: châm đại lăng, cưu vĩ

– Hạn chế vận động khớp vai: châm kiên ngung, kiên liêu, kiên nội lăng, kiên trinh, kiên trung du, kiên ngoại du.

– Rối loạn tâm thần : châm bách hội, tứ thần thông, tứ bạch, thái xung.

– Rối loạn giấc ngủ: châm thượng tinh, thần môn

Lưu ý: Ở giai đoạn đầu dùng “đại tỉnh não” rồi sau đó dùng “tiểu tỉnh não” cho bệnh nhân trúng phong bệnh tình ổn định, thần chí tỉnh táo. Đối với giai đoạn hồi phục và giai đoạn hậu di chứng, theo phương huyệt “tiểu tỉnh não”, nhưng bệnh tình nghiêm trọng thì có thể sử dụng “đại tỉnh não”, cũng có thể thay phiên sử dụng hai phương huyệt trên.

4. Kết hợp phục hồi chức năng theo chương trình AVANT và phương pháp châm cứu “tỉnh não khai khiếu”.

Tại bệnh viện phục hồi chức năng Đà Nẵng, việc kết hợp điều trị giữa phương pháp phục hồi chức năng và châm cứu  trong điều trị trúng phong đã đạt được kết quả rất khả quan, nâng cao tỉ lệ phục hồi vận động sau đột quỵ, cải thiện tình trạng tri giác, rối loạn tâm thần, ngôn ngữ…, rút ngắn thời gian điều trị, giảm các biến chứng của bệnh.

Tai biến mạch máu não là bệnh lí nguy hiểm, tỉ lệ tử vong rất cao. Bệnh thường để lại những di chứng nặng nề cho người bệnh, biến họ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Do vậy, cần phải chú ý kiểm soát, điều trị tích cực các yếu tố nguy cơ, các bệnh lý gây tai biến mạch máu não nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Đồng thời, khi bị bệnh cần phải được can thiệp và điều trị sớm, đúng phương pháp để đạt được hiệu quả cao nhất.

E:\tai lieu  bac thuy\IMG_2007.jpegE:\tai lieu  bac thuy\IMG_2013.jpegE:\tai lieu  bac thuy\IMG_2042.jpeg

 Tập phục hồi chức năng kết hợp Châm cứu (trước điều trị: bệnh tỉnh, gọi hỏi không đáp ứng, tăng tiết đàm giải,viêm phổi, lực cơ tay  bậc 0,chân bậc 1)

C:\Users\Administrator\Downloads\IMG_2380.jpegC:\Users\Administrator\Downloads\IMG_2393.jpegC:\Users\Administrator\Downloads\IMG_2402.jpeg

Tập phục hồi chức năng kết hợp Châm cứu, điều trị nội khoa sau 02 tuần: bệnh nhân tỉnh táo, thần sắc tốt, gọi hỏi biết, đáp ứng tốt, giảm đờm nhiều,, lực cơ tay chân cải thiện khác…

Tài liệu tham khảo

 

  1. Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí đột quỵ não (Ban hành kèm theo Quyết định số 5331/QĐ-BYT ngày 23 tháng 12 năm 2020)
  2.  https://www.everpharma.vn
  3. https://www.sohu.com/a/236477155_124667.国医大师石学敏醒脑开窍针刺法.